6 bước để cải thiện màu sắc (phần 3)

08/08/2007 | 633 views

Tôi cam đoan rằng cái điều diễn ra sau đây cũng đã diễn ra với các bạn ít nhất một lần: Bạn sử dụng máy tính của khách hàng để vào trang web do chính bạn thiết kế. Và rồi bạn há hốc mồm ngạc nhiên: màu sắc của website khác xa với màu mà bạn dự định và đã tạo ra.

Hãy đến các cửa hàng băng hình và nhìn lên trên các màn hình- chúng không giống nhau. Đến các quán café bóng đá, cũng như vậy, không có một sự giống nhau nào, thậm chí từa tựa như nhau cũng có thể không, mặc dù bạn biết rằng chúng nhận cùng một tín hiệu phát sóng. Vậy tại sao việc làm cho màu sắc giống nhau trên các thiết bị lại khó khăn đến như vậy? Tương thích giữa các màn hình cũng khó như là tương thích giữa máy in và màn hình.

Đối với các nhà thiết kế điều này là không thể chấp nhận được. Chúng ta cần sự chắc chắn cho công viêc của chúng ta. Khi chúng ta nhấn dãy 3 số 113 trên điện thoại chúng ta luôn liên lạc được với máy của cảnh sát chứ không phải là tiệm mổ lợn cuối chợ hay cái gì đại loại như thế. Vậy tại sao chúng ta không thể nhấn 3 số và luôn được màu mà chúng ta muốn trên các thiết bị khác nhau?

Màu sắc là một cái gì đó phức tạp để hiểu tường tận bởi có nhiều quan điểm, lập trường khác nhau về việc đo lường và tiếp cận màu sắc. Bạn cần ít nhất 3 tiêu chí (hoặc thông số) để miêu tả nó, như trong trường hợp bạn tiếp cận các giá trị RGB hay CMYK. Thậm chí chỉ một hệ thống diễn giải màu đơn giản (như các sách chỉ dẫn màu của Pantone) cũng sử dụng các thông số LAB (xem khung chú dẫn) để diễn tả một màu nào đó cho các công ty mực, sơn, nhựa và dệt may. Các công ty này cần chúng để làm cho các sản phẩm của họ có màu thật khớp với ý định của họ. Ví dụ, Pantone 150 theo LAB là L=77, A=29, B=59 trong khi theo RGB là R=39, G=167, B=86, và nói một cách đơn giản nhất cho các bạn dễ tưởng tượng thì đó là màu đào/da cam nhạt. Miêu tả các không gian màu 3 chiều như LAB quả thật là khó để tiếp cận. Hãy xem một ví dụ đơn giản hơn. Hãy tưởng tượng bạn đang đo một bức tranh mà bạn cần đem đi để đóng khung nhưng bạn không biết rằng cái thước mà bạn đang sử dụng bị định cỡ sai.

Khi bạn đo chiều dài mà lại sử dụng một chiếc thước định cỡ sai dẫn bạn đến một kết quả là 50 cm chẳng hạn. Khi bạn gửi số đo này tới người làm khung, người này không thể biết là thước của bạn bị sai. Bạn nhận chiếc khung về và thấy nó quá to hoặc quá nhỏ.

Giả sử như bạn đo bằng một chiếc thước chuẩn thì chiều dài thực tế là 40 cm. Nếu người làm khung biết chính xác thước của bạn sai lệch ở mức độ nào họ có thể tính toán điều chỉnh lại số đo của bạn đã gửi.

Trong một chừng mực nào đó, vấn đề của việc quản lý màn hình của bạn lại trái ngược với tình huống trên. Thậm chí mặc dù phần mềm ưa thích của bạn biết làm thế nào để gửi các dữ liệu RGB và CMYK chính xác một cách hoàn hảo thì lại chẳng có cách nào để biết được màn hình của bạn có hiển thị dữ liệu màu một cách chính xác hay không. Bạn cần một phương pháp để chỉnh lại màn hình của bạn sao cho hiển thị màu sắc chuẩn xác.

Để xử lý vấn đề, chúng ta phải biết chính xác thiết bị của bạn sai lệch bao nhiêu, dù cho nó là một cái thước hay là một cái màn hình. Làm được điều này cần có một máy tính đặc biệt (hoặc một ứng dụng phần mềm) chuyển đổi giữa một thông số này và một thông số khác. Ví dụ trong trường hợp của chiếc thước, chúng ta có thể gọi là “hệ thống quản lý thước”.

Đó là cách mà các hệ thống quản lý màu làm việc. Bạn cần một cách kiểm tra màn hình để biết được nó sai lệch đến mức độ nào. Một thiết bị quang học được gắn trước màn hình đo đạc các thông số màu mà màn hình hiển thị. Các thông số được xử lý qua một máy tính số học, thường là phần mềm đi cùng với thiết bị. Khi các bước đo đạc và tính toán hoàn thành, phần mềm sẽ xây dựng được một hệ thống đặc biệt. Hệ thống này sẽ giúp cho các ứng dụng thiết kế và xử lý ảnh của bạn chuyển đổi các dữ liệu màu thực tế sang các thông số thích ứng với màn hình của bạn sao cho nó hiển thị màu chính xác nhất. Thực tế, phương pháp này sẽ chuyển đổi các thông màu đúng thành các “số đo sai một cách hoàn haỏ” cho màn hình của bạn. Nhưng kết quả hiển thị lại là khá chính xác.

Điều này có vẻ như phản trực giác. Hãy quay trở lại với ví dụ của chiếc thước đo sai. Giả như chúng ta chụp hình chiếc thước này với một máy ảnh chính xác và cho ra bức hình với kích cỡ hệt như của chiếc thước. Chúng ta biết chiếc thước sai, nhưng bây giờ chúng ta đã đo đạc nó một cách hoàn hảo và có phần mềm hiểu được cái mà các vạch đo trên thước biểu đạt.

Về cơ bản, điều này cũng tương tự khi bạn gắn một thiết bị đo màu ngay trước màn hình của bạn. Phần mềm tích hợp sẽ gửi các thông tin màu đầy đủ và có trình tự một cách chuyên biệt tới màn hình của bạn. Màn hình sẽ làm việc tối đa để hiện thị các màu sắc này theo trình tự đã nêu và thiết bị đo đạc (trông giống như một chiếc camera- thường được gọi là máy đo màu hay quang phổ kế) sẽ ghi lại các dữ liệu đầu ra và báo cáo trở lại tới phần mềm quản lý màu.

Sắc kế và quang phổ kế là các thiết bị đo màu được sử dụng trong tất cả các loại môi trường phân tích màu. (Để biết thêm chi tiết về các thiết bị định cỡ màu của màn hình hiện có trên thị trường, bạn có thể đánh từ “monitor calibration” trong Google và nhìn sang bên phần Sponsored Links, hoặc vào trang www.color.org và click vào mục Member List)

Phần mềm quản lý màu biết các thông số màu nào được gửi, so sánh chúng với cái mà thiết bị đo màu “nhìn thấy”, và tạo ra một hệ thống nhận diện, hệ thống này sau đó được ứng dụng bởi module quản lý màu của máy tính-gọi tắt là CMM. CMM sử dụng hệ thống nhận diện màn hình để chuyển đổi các thông số màu từ đầu ra của ứng dụng của bạn thành cái mà màn hình của bạn cần để hiện thị màu sắc như bạn đã định.

Vậy đâu là giải pháp tốt nhất cho màn hình của bạn? Các nhà sản xuất đưa ra rất nhiều giải pháp và có quá nhiều nhà sản xuất như vậy để có thể kể ra. Một gợi ý cho bạn: hãy tìm kiếm trên trên Internet hay vào www.color.org để có cái nhìn chính xác, khách quan nhất. Hãy hỏi các nhà cung cấp dịch vụ in ấn và tiền chế bản sản phẩm mà họ dùng là gì; có thể họ sẽ cho bạn những gợi ý, thậm chí là một giải pháp hiệu quả. Một vài người quyết định thuê một chuyên gia quản lý màu, người sẽ mang về các thiết bị cần thiết và đưa ra các giải pháp mà họ cho là tốt nhất bởi họ không có thời gian để học tất cả các điều trên nhưng họ có khá nhiều tiền. Những người khác lại tự mua các thiết bị phần cứng và phần mềm và tự mình quản lý màu sắc màn hình.

Nhưng dù bạn tự mua thiết bị hay thuê một chuyên gia thì biết được tiến trình quản lý màu như thế nào cũng là một lợi thế.

LAB
CIE L’a’b (CIELAB) là mô hình màu hoàn chỉnh nhất được sử dụng phổ biến trên thế giới để mô tả tất cả các màu mà mắt người có thể nhìn được. Nó được phát triển cho một mục đích chuyên biệt bởi Ủy ban Quốc tế về Ánh sáng (Tên tiếng Pháp là Commission Internationale d’Eclairage, vì vậy các chữ cái đầu CIE có trong tên gọi của nó).
Ba thông số trong mô hình LAB đại diện cho: độ sáng của màu sắc (L: L nhỏ nhất là màu đen), vị trí của nó giữa đỏ-red và xanh lục-green (A: A nhỏ nhất là xanh lục) và vị trí của nó giữa vàng-yellow và xanh dương-blue (B: B nhỏ nhất là xanh dương).
Vì mô hình LAB có 3 thông số nên nó chỉ có thể được thể hiện chính xác trong không gian 3 chiều. Tuy nhiên một đặc điểm nổi bật của mô hình này là thông số đầu tiên (L) hoàn toàn mang tính trực giác. Thay đổi giá trị của nó cũng như thay đổi độ sáng tối trên màn hình tivi.

(còn tiếp)
Thanh Tùng (dịch từ DG)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *